Thưởng Thức Thiên Nhiên Qua Nhạc Cổ Điển


Sống nơi đô thị dày đặc tạp âm công nghiệp vốn bấy lâu che lấp đi thanh âm vi tế của tự nhiên, đôi tai ta thèm nghe tiếng một dòng suối nhỏ róc rách (geophony – địa âm), và nhớ thương bản hợp xướng của muôn loài (biophony – sinh âm). Chính khi ấy, âm nhạc cổ điển mở ra như chốn nương náu, một “cảnh quan âm thanh” (soundscape) được bảo tồn để nghệ thuật lắng nghe tưởng chừng thất truyền có thể được tìm lại.

Ta thử tìm chốn ấy qua cánh đồng lúa mì vàng óng rung rinh dưới trời tháng Sáu của Beethoven, tiếng sóng biển lúc bình minh của Debussy, hay sơn ca vọng về từ một đồng quê Anh quốc của Vaughan Williams. Bằng cách đó, âm nhạc cổ điển đã trở thành người dẫn đường tao nhã, đưa ta vào chính linh hồn của cảnh sắc.

Quang Cảnh Hữu Hình

Ta khởi hành với một khát vọng nguyên sơ của âm nhạc cổ điển: dùng thanh âm để kể lại một câu chuyện về thế giới hữu hình. Người nghe được mời vào vị trí đồng hành, chiêm ngưỡng quang cảnh đang tuần tự hiện ra.

Trên đỉnh cao của nghệ thuật tự sự bằng âm thanh này, mấy ai sánh bằng Antonio Vivaldi cùng kiệt tác bất hủ “Bốn Mùa”. Tác phẩm đại diện cho hình thức âm nhạc chương trình (program music) – tức sử dụng âm nhạc để thuật lại một câu chuyện cụ thể. Vivaldi đã đính kèm bốn bài sonnet như một bản chỉ dẫn chi tiết cho từng chương nhạc. Dòng nhạc và dòng thơ soi chiếu, quấn quýt lấy nhau, biến trải nghiệm nghe thành một cuộc nhìn-và-chiêm nghiệm đầy sống động trong tâm tưởng.

Ta gần như có thể “thấy” được một mùa Xuân (La Primavera) hân hoan trở về trong những giai điệu tươi sáng, cảm nhận được sự hồi sinh của đất trời sau giấc ngủ dài. Những chuỗi thanh âm cao vút ríu rít là tiếng chim hót gọi bầy, những chùm nốt lướt nhẹ nhàng là dòng suối chảy róc rách. Rồi cái nóng của mùa Hạ (L’estate) ập đến, đặc quánh và kiệt sức, được thể hiện qua những giai điệu chậm rãi, nặng nề của tiếng ve kêu khắc khoải. Sự tĩnh lặng ngột ngạt ấy lại bị xé toạc bởi cơn thịnh nộ dữ dội của một cơn bão, một trong những bức tranh âm nhạc kịch tính nhất từng được viết. Không gian dịu lại trong mùa Thu (L’autunno), với lễ hội tưng bừng của vụ gặt, nơi tiếng nhạc gợi lên hình ảnh người nông dân nhảy múa và say sưa trong men rượu. Và rồi Đông (L’inverno) đến, một mùa đông khắc nghiệt. Ta nghe thấy cái rét buốt giá qua những nốt nhạc sắc lạnh, run rẩy, gần như cảm nhận được tiếng răng va vào nhau lập cập. Nhưng rồi, giữa sự khắc nghiệt đó, một giai điệu dịu dàng ấm áp vang lên, đó là niềm hạnh phúc giản dị được an trú bên lò sưởi, nhìn ngắm quang cảnh giá lạnh ngoài ô cửa.

Với “Bốn Mùa”, Vivaldi đã tạo ra một thế giới quan hoàn chỉnh, nơi mỗi mùa không chỉ là một trạng thái của thiên nhiên, mà còn là một chương của cuộc đời con người, với đủ cả niềm vui, sự mệt mỏi, nỗi hân hoan và những phút giây an bình. Ông đã chứng tỏ một cách thuyết phục rằng nhạc cổ điển có thể trở thành một người kể chuyện tài ba như thế.

Vivaldi: Four Seasons/Quattro Stagioni – Janine Jansen – Internationaal Kamermuziek Festival

Một thế kỷ sau, Ludwig van Beethoven, trong Giao hưởng số 6 “Đồng Quê”, đã khoác thêm một chút lãng đãng cho hình thức program music. Tác phẩm như nhật ký về một ngày dạo chơi ở miền quê thanh bình với những chương hồi rõ rệt. Ta theo chân Beethoven, từ khoảnh khắc hân hoan khi ông trút bỏ được gánh nặng phố thị, đến ngồi tĩnh lặng bên “Cảnh bờ suối”. Tiếng chim gáy lúc cuối chương như một lời xác nhận về sự giao cảm trọn vẹn giữa con người và thiên nhiên. Rồi ta chung vui trong “Lễ hội của những người nông dân”, trải qua “Cơn giông bão” với tất thảy kinh ngạc trước cái dữ dội của tự nhiên, để rồi vỡ òa trong “Bài ca của người chăn cừu”, một khúc ca đầy lòng biết ơn và thanh thản. Ta là người quan sát cuộc hành trình của nhà soạn nhạc, và qua đôi tai của ông, ta thấy được một quang cảnh không chỉ của đất trời mà của cả một tâm hồn.

Beethoven: 6. Sinfonie (»Pastorale«) ∙ hr-Sinfonieorchester ∙ Andrés Orozco-Estrada

Âm Cảnh Vô Hình

Từ vai trò của một người quan sát đứng bên lề chiêm ngưỡng câu chuyện, âm nhạc sau đó đã mời gọi ta vào một cuộc hành trình khác: không chỉ nhìn ngắm, mà thực sự nghe rõ thiên nhiên. Đây là nghệ thuật của “âm cảnh” (soundscape), nơi ranh giới giữa chủ thể và ngoại cảnh bị xóa nhòa, nơi ta không còn nghe về sự vật, mà trở thành chính sự vật đó.

Claude Debussy là người đã mở ra cánh cửa vào thế giới của những trạng thái này. Ông gọi kiệt tác “La Mer” của mình một cách khiêm tốn là “ba bản phác thảo giao hưởng” (trois esquisses symphoniques). Chính từ “phác thảo” đã cho thấy một quan niệm thẩm mỹ hoàn toàn mới: nghệ thuật không còn được đóng khung, mà là một nỗ lực nắm bắt cái khoảnh khắc đang biến chuyển, cái cảm giác còn tươi mới.

Hành trình chìm đắm ấy bắt đầu với chương đầu tiên, “Từ bình minh đến trưa trên biển”, nơi âm cảnh được kiến tạo từ sự tĩnh lặng tuyệt đối, rồi dần dần được bồi đắp bằng những lớp màu âm thanh mỏng manh, tựa như ánh sáng ban mai đang từ từ lan tỏa trên mặt nước. Không gian tiếp tục biến đổi trong “Trò chơi của sóng biển”, một chương nhạc đầy những chuyển động lấp lánh. Những dòng giai điệu vỡ ra thành từng mảnh nhỏ, lung linh và tinh nghịch như ánh nắng nhảy múa trên những con sóng. Và rồi tất cả hợp lại trong một cuộc đối thoại hùng vĩ và nguyên sơ giữa “Gió và Biển”, nơi ta cảm nhận được sức mạnh kinh hoàng và vẻ đẹp bí ẩn của hai thực thể thiên nhiên vĩ đại.

Để kiến tạo nên âm cảnh này, Debussy đã từ bỏ lối kể chuyện tuần tự. Ngôn ngữ của ông là những hòa âm lơ lửng, không có điểm tựa, những mảng màu âm sắc tan nhòa vào nhau, tạo ra cảm giác vô định của mặt nước. Người ta nói rằng, nguồn cảm hứng thị giác của ông đến tác phẩm nổi tiếng “Sóng lừng ngoài khơi Kanagawa” của Hokusai – một khoảnh khắc mà con sóng được nắm bắt ở đỉnh điểm của năng lượng và sự biến ảo. Âm nhạc của Debussy cũng vậy, nó không mô tả biển, nó nắm bắt và tái tạo lại chính cái năng lượng vận động của biển. Nghe “La Mer”, ta không còn đứng trên bờ mà ngắm biển, ta đã bị nhấn chìm vào lòng đại dương, trở thành một phần của sự vận động vĩnh cửu ấy.

Cũng kiến tạo một trải nghiệm chìm đắm là con sông Vltava của Bedřich Smetana. Ta khởi đầu là những giọt nước tinh khôi từ hai dòng suối, rồi lớn dần thành dòng sông, cuồn cuộn chảy qua những cánh rừng, những lễ hội làng, trôi lãng đãng dưới ánh trăng cùng những nàng tiên nước, rồi gầm gào qua ghềnh đá. Toàn bộ tác phẩm vốn được viết vaog thời điểm Bedřich Smetana đang mất đi thính giác, và có lẽ vì thế càng bám víu vào dòng sông ký ức trong tâm tưởng. Khi dòng sông tiến vào Prague, đó là sự thăng hoa của một tâm hồn đã ký thác toàn bộ tình yêu và nỗi nhớ quê hương vào dòng chảy ấy. Người nghe không quan sát câu chuyện của Vltava mà đang sống trong chính câu chuyện đó, cảm nhận thế giới từ góc nhìn của dòng nước.

Smetana – Vlatava

Thay Lời Kết

Thế giới của những bậc thầy kể trên là nơi cuộc đối thoại giữa “sinh âm” và “địa âm” vẫn còn nghe được rõ ràng, nơi sự chú tâm còn đủ sâu để những thanh âm vi tế nhất cất tiếng. Ta đang cúi xuống bên một mạch nguồn đã chảy từ rất lâu, lắng nghe một nỗ lực tuyệt đẹp và bi tráng của con người muốn dùng từng nốt nhạc để lưu giữ cái khoảnh khắc đẹp đang mất, sẽ mất. Tôi tin rằng trong những thời khắc kín đáo ấy, họ đang lặng lẽ dạy ta một cách sống.

Lắng tai và lặng hồn mình, bạn đã nghe được gì chưa?

–PHƯƠNG YẾN


Âm Nhạc Cổ Điển. (n.d.). Trang Facebook.

Beethoven, L. v. (1808). Symphony No. 6 in F major, Op. 68 “Pastoral”.

Burke, E. (1757). A Philosophical Enquiry into the Origin of Our Ideas of the Sublime and Beautiful.

Debussy, C. (1905). La mer, trois esquisses symphoniques pour orchestre.

Merleau-Ponty, M. (1945). Phénoménologie de la perception. Paris: Gallimard.

Quốc, P. T. (2023). Lắng nghe Thiên nhiên: Một góc nhìn từ hiện tượng học và khoa học sinh thái âm học. Tạp chí Tia Sáng.

Smetana, B. (1874). Vltava (Má vlast, JB 1:112/2).

Vivaldi, A. (1725). Le quattro stagioni (The Four Seasons).


Bình luận về bài viết này