Trong túi áo của Albert Camus, khi người ta tìm thấy ông trong chiếc Facel Vega lao vào gốc cây ven đường, có một chiếc vé tàu hỏa chưa dùng. Ông đã định đi tàu hôm đó. Nhưng Michel Gallimard rủ ông đi ô tô, ông nhận lời, cái gật đầu nằm giữa sự sống và cái chết. Tôi hay nghĩ đến chi tiết đó mỗi khi đọc lại ông, không phải vì nó bi thảm mà vì nó quá thường tình, quá nhỏ nhặt, không xứng với tầm vóc của một người đã viết về cái chết như thể đó là thứ duy nhất thật sự đáng được viết. Cái chết chỉ thản nhiên vạch ra một đường biên: bờ bên này là tất cả những gì ta gọi là ý nghĩa, bờ bên kia là sự câm lặng của hư vô không thể đàm phán.
Kawabata Yasunari chết tháng 4 năm 1972 trong phòng khách sạn, bằng khí ga, không có thư tuyệt mệnh, không một lời giãi bày. Người đàn ông dành cả đời gom nhặt những mảnh vỡ của cái đẹp phù du, cuối cùng bước qua đường biên lặng lẽ như thể thêm một cảnh ông cần quan sát từ phía bên kia.
Đặt Camus và Kawabata cạnh nhau là bước vào một cuộc chạm trán của hai thứ nhiệt độ: một bên là nắng trưa vùng Địa Trung Hải, loại nắng rực cháy với sức thiêu rụi mãnh liệt; một bên là tuyết phủ xứ Phù Tang như hư như thực. Họ đến từ hai vũ trụ khác nhau. Nhưng đứng cách họ đủ xa, ta nhận ra cả hai đang nhìn vào cùng một thứ – chỉ là từ hai phía đối diện nhau.

Có một điều về Camus mà ta hay bỏ qua khi nói về chủ nghĩa phi lý của ông: ông yêu cuộc đời một cách mãnh liệt, gần như thô bạo. Yêu ánh sáng, yêu cát và biển và thân xác người khác, yêu sự hiện diện đơn thuần của thế giới vật chất. Chính vì yêu đến vậy nên sự câm lặng của vũ trụ mới không thể chịu đựng được. Phi lý, với Camus, không sinh ra từ bi quan hay hư vô. Nó sinh ra từ tình yêu bị phản bội, từ một người đòi hỏi thế giới phải có ý nghĩa xứng với tình yêu ông dành cho nó, và thế giới không trả lời. Cái va đập đó là nơi toàn bộ tư tưởng của ông bắt đầu. Từ trong lòng nó, ông không rút ra sự chấp nhận hay buông bỏ. Ông rút ra nổi loạn, thứ nổi loạn của kẻ biết mình thua mà vẫn không chịu cúi người.
Tư tưởng đó không trừu tượng trong văn chương của ông. Nó có xác thịt, có mồ hôi, có cát dưới chân. Trong tiểu thuyết Cái chết hạnh phúc, Patrice Mersault giết Zagreus không vì hận thù. Zagreus là người đàn ông giàu có, tàn tật, người đã ngồi trước mặt Patrice và nói ra điều mà cả hai đều đã biết: hạnh phúc cần thời gian, thời gian cần tiền, và tiền thì không tự đến với kẻ làm công ăn lương cả đời. Cái chết của Zagreus, vì vậy, gần như là một giao kèo, lạnh lùng và thản nhiên, của kẻ biết mình đang chết và quyết định chọn cái chết nào xứng đáng hơn. Sau khi giết người, Patrice đi châu Âu, tiêu tiền, tìm kiếm hạnh phúc bằng đúng thứ vừa đoạt được, rồi nhận ra hạnh phúc không nằm ở một nơi chốn nào có thể mua được. Ông quay về Algiers, về gần biển và mặt trời, sống những tháng cuối trong thứ ánh sáng duy nhất ông tin là thật. Camus gọi phần hai của cuốn sách là “cái chết có ý thức”: biết mình đang ở đâu trên hành trình, biết kết thúc sẽ ra sao, và vẫn tiếp tục theo cách của mình. Trong Thần thoại Sisyphus, ông đẩy ý niệm đó đến tận cùng: Sisyphus lăn tảng đá lên dốc mỗi ngày dẫu biết nó sẽ lại lăn xuống, và ta phải tưởng tượng Sisyphus hạnh phúc, vì ông ta đã thôi cần tảng đá dừng lại. Hư vô không được chinh phục. Nó chỉ được sống cùng cho đến hơi thở cuối cùng. Trong Người xa lạ, Meursault không nói dối, không cầu nguyện, không diễn trò hối hận trước tòa án và đám đông chờ anh ta sụp đổ theo đúng kịch bản họ đã chuẩn bị. Đêm trước khi bị xử tử, sau khi xua đuổi vị linh mục ra khỏi xà lim, Meursault nằm ngửa nhìn bầu trời đầy sao và chạm vào thứ gì đó không có tên gọi; không phải bình yên, không phải chấp nhận:
Cứ như thể cơn giận dữ vĩ đại đã thanh tẩy tôi khỏi cái ác, làm cạn kiệt trong tôi mọi hy vọng. Nhìn lên bầu trời đêm đó, lần đầu tiên tôi mở lòng mình trước sự dửng dưng êm ái của thế giới.
Sự dửng dưng êm ái. Tôi nghĩ đó là một trong những cụm từ kỳ lạ nhất trong văn chương thế kỷ XX – không phải vì nó đẹp mà vì nó đúng theo cách mà rất ít điều là đúng. Khi hy vọng về ngày mai bị tước đoạt hoàn toàn, khi không còn chỗ nào khác để trốn, người ta bỗng nhiên ở lại với hiện tại theo nghĩa tuyệt đối nhất của nó.
Văn hào Kawabata Yasunari mất cha năm lên hai, mất mẹ năm lên ba, lớn lên trong một căn nhà vơi dần người theo từng năm, cho đến khi người thân cuối cùng cũng ra đi khi ông còn là thiếu niên. Ông trải nghiệm sự mất mát trước khi gọi tên được nó. Vì vậy khi người ta nói về mono no aware trong văn chương Kawabata như một mỹ học hay như một nét đẹp trong văn hóa Nhật Bản, tôi nghĩ họ đang nói đúng mà vẫn thiếu một thứ gì đó: với Kawabata, nhìn thấy cái đẹp trong khoảnh khắc sắp tàn không phải là triết lý được chọn lựa. Đó là cách để ông sống sót. Nếu mọi thứ đều sẽ mất, thì không cần phải giữ lại mới yêu được. Đó là cơ chế sinh tồn của người đã quá quen với việc người mình yêu thương rời thế gian.
Trong Xứ tuyết, chàng Shimamura nhìn cuộc đời nàng ca kỹ Komako — người đàn bà vắt kiệt mình để yêu, miệt mài ghi chép những trang nhật ký không ai đọc, gảy những khúc shamisen vang vọng vào thung lũng lạnh rồi tan biến vào đó mà không để lại dấu vết. Anh ta biết tất cả là vô vọng. Komako cũng biết. Chỉ là cả hai không dừng được, bởi có những thứ người ta không làm vì nó có ý nghĩa mà làm vì không thể không làm. Có một khoảnh khắc Shimamura nhìn khuôn mặt nàng phản chiếu trên tấm kính cửa sổ toa tàu; bên ngoài là đêm và núi tuyết trắng xóa, khuôn mặt nàng nổi lên trên phong cảnh đó, không hoàn toàn ở trong toa tàu, không hoàn toàn ở ngoài kia, trôi bồng bềnh giữa hai thứ thực tại, và anh ta nhìn mãi nhìn mãi như thế mà không cứu được gì, không nắm giữ được gì. Chính sự không thể chạm tới mới là cái đẹp. Cái đẹp chưa bao giờ hứa hẹn ở lại.

Hai người đàn ông, hai nỗi day dứt khác nhau, cùng trăn trở về sự mong manh của kiếp người, tuần tự nhấm nháp nỗi cô đơn nguyên thuỷ, gặp gỡ nhau trên đường biên của hư vô và cái chết. Nhưng mỗi người chọn một lối đối đãi riêng. Camus nhìn cuộc đời là một chuỗi vô nghĩa, nhưng ông không cho phép sự buông xuôi. Kawabata nhìn sự tàn phai bằng ánh mắt dịu dàng và không phản kháng. Cả hai chết theo đúng cách tư tưởng của họ từng tiên liệu: một bên đột ngột đến phi lý, một bên như đang nằm nghỉ trong dòng khí ga; như thể cuộc đời chỉ là áng văn họ đang viết, và cái chết là câu cuối cùng họ không kịp chỉnh sửa.
Tôi không biết khi ta hiểu về đường biên ấy, đến mức nó thấm vào từng trang ta viết, từng cách ta nhìn người khác, từng buổi sáng ta thức dậy – thì cái hiểu đó rốt cuộc làm gì với ta. Có lẽ đó không phải câu hỏi đúng. Có lẽ câu hỏi đúng là: khi không còn gì để bám víu, người ta làm gì với khoảng thời gian còn lại giữa lúc biết và lúc kết thúc? Meursault nhìn lên bầu trời đầy sao. Komako gảy thêm một khúc đàn vào thung lũng không ai nghe. Có thể chỉ có vậy thôi. Không phải trí tuệ, không phải giải thoát; chỉ là những hành động nhỏ, lặng lẽ và thường tình, của những người đã nhìn thẳng vào hư vô và quyết định, dù sao vẫn cứ rót thêm một tách trà.
–Phương Yến.
